Hoàng hôn rực đỏ.
Glowing Finger
  • Bạn phải đăng nhập để sử dụng bookmark
Tùy chỉnh

Tập 01

Chương 02

Độ dài: 10,326 từ - Lần cuối: - Bình luận: 0

Năm mười tám tuổi, năm nhất Đại học, Phong thuê được một phòng nhỏ nhắn trong căn nhà bình thường. Nằm sâu trên một con đường đông đúc, phải đi qua nhiều con ngõ và hẻm nhỏ mới tới được. Nó vốn là một nhà dân bình thường được cắt phòng và cho thuê. Vậy nên mỗi tầng căn nhà chỉ có hai phòng đối diện nhau, nhà vệ sinh chung ở giữa. Không hề phù hợp với hộ gia đình, nên chỉ toàn sinh viên và nhân viên văn phòng thích cô đơn sống ở đây.

Kể từ khi lên thành phố, có một điều mà Phong cảm thấy rất lý thú. Đó là chẳng hề có cái thứ gọi là ‘tình làng nghĩa xóm’. Người thuê chung một căn nhà cứ lướt qua nhau mà sống. Thường họ chỉ chạm mặt nhau mỗi khi đi làm, đi học, và mỗi khi trở về phòng. Có lẽ vì không thể tránh mặt nhau được nên mới phải gật đầu chào. Vậy cũng tốt, Phong nghĩ, sống thế mới thật với con người mình chứ.

Chủ căn nhà là một bà chị chừng gần ba mươi tuổi, xinh đẹp với thân hình thực sự bốc lửa. Chưa hề có chồng và rất hiếm mới xuất hiện, dù chị ta sống trong căn phòng ở tầng hai, tầng mà chỉ duy nhất chị ấy sống. Phải nói là Phong đã nhìn thấy vài ánh mắt của mấy thằng sinh viên như con chó đói khi liếc trộm chị. Chúng có lẽ là dạng sẽ không kìm được bản thân nếu có cơ hội. Vậy mà chị ta vẫn cho chúng thuê phòng… với cái bản chất thương hại sẵn có.

Nhưng tóm lại, sống ở đây thì không gặp bất kì vấn đề nào. Quãng đường tới trường cũng gần. Tính ra chỉ cần đi bộ chừng mười năm phút là tới. Đó là một trường công với học phí rẻ bậc nhất Hà thành này. Dù rằng suốt những năm cấp Ba, Phong đạt được rất nhiều thành công trong những cuộc thi vĩ cầm, nhưng nó vẫn chọn học Công nghệ Thông tin. Chẳng hề liên quan gì đến âm nhạc, và Thầy thì đã suýt phát điên khi nó đề cập đến chuyện này. Dù sao thì Thầy cũng từng cùng nó lăn lội khắp nơi trong suốt mấy năm, và rồi nó học cái ngành này như cái tát vào mặt Thầy. Nó xin lỗi, nhưng nó nghĩ đây là đúng đắn.

Cái buổi đầu tiên đến để làm hồ sơ, đó là lần Phong hiểu tại sao học phí ở đây lại thấp đến vậy. Cỡ hai nghìn đứa sinh viên năm Nhất đứng xếp hàng dài dưới nắng cả sáng lẫn chiều. Tất cả chỉ đang chờ đến lượt để vào hai căn phòng, nam nữ riêng rẽ. Trong đó có sẵn bốn bác sĩ đáng kinh đang chờ. Khi đến lượt và ngồi đối diện họ, những vị bác sĩ sẽ sờ nắn như trẻ con bấu chơi vậy. Thi thoảng họ sẽ hỏi: “Có đau không?”, cũng thi thoảng chẳng cần hỏi gì. Cứ vậy các vị bác sĩ tích vào những ô trong giấy khám bệnh, tất cả đều ổn.

Tiếp theo lại đi xếp hàng và chờ đến lượt đo huyết áp. Cũng đều là 80/120 cả. Cuối cùng là khoản lấy máu đi xét nghiệm. Người ta hút cả đống máu và phân loại hẳn hoi. Nhưng sau cả tháng cũng chẳng thấy kết quả trả về tay sinh viên, thậm chí còn chẳng hề có tin tức gì.

Không thằng sinh viên nào quan tâm điều ấy. Nhìn số tiền nhỏ nhoi dành cho khoản xét nghiệm này thì chúng đâu có cớ để phàn nàn. Hoặc chúng giống như mấy con bò vắt sữa quen rồi. Còn thằng Phong, ngay từ buổi xét nghiệm ấy nó đã không ưa gì Đại học này. Có lẽ là do cung cách làm việc, chứ không phải là nó tiếc khoản tiền đã nộp vào đây.

Buổi đầu tiên ngồi trên lớp, Phong có cảm giác hơi bơ vơ. Nó đã bỏ vài buổi họp lớp vui vẻ mà đáng ra nên dự. Để bây giờ các nhóm bạn đã hình thành, chúng ngồi tụ tập lại với nhau và luôn bàn tán sôi nổi. Số còn lại đều là một lũ ngu ngơ và ngại giao tiếp. Tổng thể đếm được bảy đứa kể cả thằng Phong. Con số ấy chẳng ăn nhằm gì so với sĩ số tám mươi của lớp học, nên cũng chẳng ai thèm để tâm.

Môn học đầu tiên, thật quá khác với những gì nó tưởng tượng. Một ông thầy giáo già đến độ phải chống gậy lên lớp, tóc đã hói sạch và khuôn mặt lúc nào cũng trong trạng thái nhăn nhó. Ông ấy không cần giới thiệu, không cần nhắc nhở hay nói bất cứ điều gì khác ngoài bài học. Ông bước vào lớp, gạt bảng vào và viết lên dòng chữ: Toán cao cấp.

Ngồi và nghe ông ấy nói tầm hai tiếng, Phong bắt đầu thấy mệt mỏi với đống kiến thức nhằng nhịt này. Đúng là số học vẫn không bao giờ thấm nổi vào đầu nó. Vậy là Phong phát ngán, và nằm dài ra chiếc bàn mà lim dim.

Bỗng nó nhớ về cuộc thi cách đây sáu tháng, cuộc thi vĩ cầm cuối mùa Xuân diễn ra vào tháng Tư.

Đó là một cuộc thi có giải thưởng rất lớn khiến thằng Phong và Hà Anh đều đầy tham vọng muốn giành được. Nhưng nằm sau vẻ hào nhoáng ấy, Phong ngửi thấy một mùi gì đó bẩn thỉu. Đúng là bẩn thỉu từ ngay cái cách tổ chức cuộc thi.

Trong một lần đến và nghe thông báo về cuộc thi, ông bầu đã xuất hiện và đứng trước tất cả thí sinh. Ông ta có tạng người béo mập, bụng to nhưng chẳng hiểu sao vẫn cố mặc bộ vest chật ních. Đứng trên bệ để tất cả thi sinh chỉ dưới hai hai tuổi nhìn thấy, ông hất hàm trịnh trọng tuyên bố:

“Các cô cậu không cần phải cố gắng nhiều quá. Các giải đã được sắp xếp trao cho người cần trao hết cả rồi. Nên lần dự thi này các cô các cậu tập trung biểu diễn thật tốt để lên truyền hình thôi.”

Dứt lời, ông ta đánh mắt nhìn từng thí sinh một đang ở phía dưới. Thấy tất cả im lặng, không ai phản ứng, ông ta gật đầu ưng ý rồi đáp một câu cuối rồi rời đi: “Vậy thôi.”

Biết đám nhóc vẫn chưa hiểu gì, người phụ nữ là phụ tá của ông ta lại đứng lên bục cao mà giải thích lại:

“Tất cả đã nghe rõ rồi đấy. Giải thưởng đã được ấn định rồi. Vậy nên lần tham dự này các em chỉ cần cố gắng thể hiện để lên truyền hình thôi, thế là quá tốt để phát triển bản thân rồi. Và nên nhớ, bất kì ai nhe răng nói nửa lời chuyện này ra bên ngoài, chị chắc tương lai của các em sẽ không tham gia nổi một cuộc thi nào đâu.” Chị ta đánh mắt nhìn tất cả thí sinh y như người đàn ông khi nãy. “Chị thấy tất cả ở đây đều đủ tuổi để hiểu tất cả những chuyện ấy. Nên từ giờ chị sẽ không nói thêm bất cứ lần nào về chuyện này nữa. Vậy thôi, tất cả ở lại chờ thông báo tiếp theo.”

Phong khi ấy đứng cạnh Hà Anh, ngoái đầu lại hỏi: “Gì vậy nhỉ?”

Hà Anh lúc ấy thì luôn đẹp, chí ít với Phong là vậy. Khuôn mặt nhỏ nhắn với mái tóc dày. Ánh mắt sâu và trông thật sự hút hồn. Hút hồn là sự thực, bởi rất khó khi dứt ánh nhìn khỏi mắt cô. Đôi mắt luôn đọng một nỗi buồn thầm kín, long lanh và có thể uyển chuyển thay đổi sắc thái. Với đôi mắt và tổng thể khuôn mặt hài hoài, Hà Anh có thể dễ dàng tự tin đứng ở bất cứ đâu, và cô thì vẫn đẹp. Chỉ có một điều duy nhất Hà Anh ngại khoe ra, đó là bàn tay thô kệch của cô. Đó là lý do tại sao Hà Anh không hay chạm vào thứ gì, và thường chỉ buông lõng hay dấu sau người.

“Vậy là chuyến đi này không được gì rồi.” Hà Anh cười nói.

Phong gật đầu: “Chắc phải báo về cho Thầy, để Thầy khỏi hi vọng.”

Vừa nói, Phong vừa rút điện thoại ra và soạn tin nhắn cho Thầy. Giờ này thì có lẽ Thầy đang đứng tiết ở trên lớp vậy nên tốt nhất là nhắn tin. Hà Anh bỗng kéo tay áo Phong, và theo phản xạ, Phong vừa nhắn tin vừa bước theo gót chân Hà Anh. Cả hai đi đến, rồi ngồi trên chiếc ghế đá ngoài sân hội trường, trông như một cặp tình nhân, và chẳng có ai thấy ngại về chuyện này.

“Lạ thật.” Phong nói. “Cứ tưởng cuộc thi sắp đặt thì phải dấu diếm ghê lắm cơ. Đằng này bô bô ra cho tất cả mọi người đều biết. Thế thì đi thi không công cho họ à?”

“Chắc sẽ có bồi dưỡng mà.” Hà Anh đút tay túi áo, khi ấy mùa Xuân vẫn còn đọng lại. Và cô thì vẫn đang mặc một chiếc áo khoác mỏng.

“Vậy à?” Phong ngạc nhiên. “Mong là sẽ cao.”

Khi ấy Phong ngồi thoải mái trên chiếc ghế dài, còn Hà Anh thì luôn ngồi ngay ngắn, hướng mặt ra phía trước. Có một điều gì đó bên trong luôn khiến cô trở nên nghiêm túc, mặc dù bản chất của cô thì không hề như thế. Phong dám chắc điều này.

“Tôi sẽ không được thi vào Học viện.” Hà Anh nói.

“Sao thế?”

“Bà ngoại sức khỏe bắt đầu yếu đi rồi. Vậy nên tốt nghiệp cấp Ba xong phải kiếm việc để phụ giúp bà.”

Phong vân vê các đầu ngón tay, hiểu rõ chuyện này. Hà Anh một khi đã nói ra thì chắc chắn cô đã suy nghĩ và tính toán rất kĩ. Không còn con đường nào nữa, chắc chắn là như vậy. Thế nên lời khuyên với cô cũng thành ra vô nghĩa.

“Vậy thành ra chẳng còn ai như tôi lại là một điều tốt.” Phong nói.

“Xin lỗi.” Hà Anh cười nhạt. “Tự nhiên lại bắt Phong nói ra những lời ấy.”

“Có gì đâu. Đó là thực tế… Và Hà Anh cũng đâu có khác gì? Chúng ta đều như nhau cả.”

Hà Anh cười, liếc sang nhìn Phong: “Giống nhau à? Tôi thì chỉ ước gì có được chút mạnh mẽ như Phong. Nếu được thì tôi đã có thể đánh lại đám bắt nạt hồi cấp Hai rồi.”

Bỗng nhiên Phong mường tượng ra dáng vẻ Hà Anh dơ nắm đấm và xử lý đám đàn chị. Cái dáng vẻ ấy, tính cách ấy mà đánh nhau thì thật khó nhịn được cười. Nhưng khi nghĩ về bà ngoại Hà Anh thì nó lại nín thinh. Không phải vì quý, mà là ghét bỏ.

“Vậy bà ngoại Hà Anh cũng đã gần tám mươi rồi đấy nhỉ?” Phong nói.

“Ừ, bảy tám rồi.”

“Tôi chẳng ước gì sống đến chừng đó đâu.” Phong nói vui. “Tôi chỉ cần sống đến sáu mươi là được rồi.”

Hà Anh ngước mắt sang nhìn: “Ít vậy thôi à?”

“Vậy là đủ rồi. Nghĩ xem, từ sáu mươi mà đi, cơ thể chúng ta sẽ dần biến thành một cục nhăn nheo. Cái gì cũng xuống cấp mà không thể bảo trì. Đầu óc thì lú lẫn, nếu có con cháu thì chắc chắn thành gánh nặng của bọn chúng. Và chúng thì sẽ kiếm cớ để đùn đẩy cho nhau.”

“Nghĩ gì tiêu cực thế?” Hà Anh nhăn mặt đáp.

“Là vậy đấy. Nếu sau này có đất đai chưa chia thì lũ con cháu còn ngoan ngoãn. Chia rồi có vào viện thì cũng cấm có vào thăm bao giờ. Chắc chắn. Vì thế tôi chỉ ước sống đến sáu mươi.”

“Thế nhỡ sống qua sáu mươi thì sao?”

“Thì vậy mới ‘ước’ mà…” Phong cười.

Hồi đó cả hai chỉ có thể gặp nhau trong những cuộc thi. Đơn giản chỉ vì nghèo. Khoảng cách cũng là một vấn đề lớn. Phong thì không thể ngửa tay xin tiền Thầy để đi gặp Hà Anh. Và cô cũng chẳng thể dám vòi tiền trợ cấp của nhà trường để đi một chuyến đi vô lý như vậy. Tóm lại, cả hai chỉ gặp nhau được ở những cuộc thi vĩ cầm. Phong cầm giải thưởng về cho Thầy, còn Hà Anh mang bằng khen về cho trường. Cả hai giống nhau như đúc. Mà chẳng phải bây giờ mới giống nhau, mà hai đứa đã giống nhau từ bé. Giống từ cái ngày bố bế nó rời đảo mỗi tháng hai lần.

Cuộc thi lần lần ấy, có một chuyện mà Phong ngẫm lại thì thật cảm thấy nông nổi. Vậy mà thời gian trôi qua có nửa năm. Sáu tháng mà khiến nó đã nghĩ bản thân trưởng thành, và đánh giá hành động đó là nông nổi. Dẫu sao một anh chàng tuổi mới lớn thích thể hiện bản thân cũng không có gì lạ lẫm.

Chuyện rằng đáng ra cả hai đã đồng ý nhận một khoản ‘bồi dưỡng’ rồi lên sân khấu chơi đàn cho đúng thông lệ. Người trong ban tổ chức đều biết tài của hai đứa, và họ đã sắp đặt cho cả hai đứng ở vị trí thứ tư và năm. Tất nhiên ba vị trí đầu tiên đều đã được sắp đặt cả rồi. Nhưng thằng Phong đã không chịu. Nó muốn hơn thế nữa.

Để đạt được khát vọng ấy, nó đã dành nguyên cái ngày hôm đó để lẽo đẽo theo ông bầu cuộc thi. Nó trình bày, lải nhải bên tai ông ta suốt, rằng hãy để nó đoạt giải Ba. Với trình độ của nó, chắc chắn sẽ làm nổi bật được hai đứa giành giải phía trên. Việc cần làm chỉ cần quảng bá trình độ của thằng Phong, với những thành tích trong các cuộc thi trước, khán giả chắc chắn sẽ kì vọng. Rồi cuối cùng, nó chỉ giành giải ba, vậy là một đòn bẩy mãn nhãn cho hai thí sinh trước.

Thành thực, ông bầu chẳng thèm để ý đến thằng nhãi cứ lẽo đẽo đi theo thế này. Muốn đá nó ra khỏi đây lắm, nhưng chương trình cần những đứa tài như nó, vậy đành thôi. Nó lải nhải mãi, cuối cùng bỗng ông trùm cũng nghĩ thông. Quả là như vậy, nếu là một đòn bẩy thì hẳn hai đứa nhóc mua giải ấy sẽ nổi tiếng hơn. Thế thì sẽ thu được nhiều tiền hơn từ cha mẹ chúng. Rồi chỉ cần rút một ít từ khoản ‘nhiều tiền hơn’ ấy mà bù cho đứa giành giải ba. Vậy là tốt đẹp, mĩ mãn chán.

Đến tận chiều, cuối cùng ông bầu cũng đồng ý. Vậy là cuộc thi lần ấy, Phong đoạt giải ba, còn Hà Anh vẫn đứng thứ năm như đã sắp đặt sẵn.

Còn đang hoài niệm thì tiếng chuông vang lên khắp trường. Như một bản năng đã có sẵn, ông thầy già nua nín chặt miệng lại ngay dù đang giảng gì đó. Lập tức thu dọn đồ và cho vào cặp, không cần chào hỏi cũng chẳng nói năng gì mà rời khỏi lớp.

Vẫn còn một môn nữa, nhưng hình như thằng Phong đã chán ngấy lớp học rồi. Thế là nó quyết đeo balo lên đi về. Đi từ dưới lớp đi lên cửa, ngay trước những ánh mắt của bạn học. Chúng nhìn thằng Phong như một sinh viên thực thụ, dám bỏ học, dám hiên ngang giữa chừng đi về. Nhưng chúng vẫn còn tư tưởng của học sinh, và chúng chẳng ưa gì mấy thành phần đã lập dị còn có thói bỏ học thế này.

Balo trên vai và đi dạo khắp phố phường. Đi một hồi từ Cầu Giấy mà về đến Thanh Xuân. Đứng giữa Ngã Tư Sở thì bất chợt có những cơn mây đen ùn ùn kéo đến. Nó lép vào vỉa hè mà đi tiếp. Những tưởng sẽ mưa to và nó đã tìm được hiên một cửa tiệm đóng cửa để trú. Ấy thế mà trời lại nắng trở lại. Nó đi bộ tiếp, đi thế nào lại vòng ngược về trường học.

Đi nhiều khiến cổ khô cứng, thằng Phong ghé vào tiệm tạp hóa và mua lấy một chai nước. Tình cờ liếc mắt nhìn thấy một công viên rộng lớn. Phải rồi, thà rằng đi bộ trong công viên còn hơn là hít khói xe ngoài đường lớn.

Vé vào cửa mất bốn nghìn, và quả là nơi này hoàn toàn xứng đáng với số tiền bỏ ra. Một hồ nước lớn nằm chính giữa, bao quanh là những con đường nhỏ chia làm nhiều lối. Ghế đá đặt khắp mọi nơi, và có rất nhiều, rất nhiều cây cổ thụ mọc xanh tươi che chắn mọi ánh nắng. Không khí cũng thật tươi sạch, và nghe thấy cả tiếng chim reo vang. Công viên rộng và sâu, càng đi, tiếng ồn xe cộ càng biến mất. Vậy là Phong đã tìm được nơi mình thuộc về.

Kể từ đó, một vòng lặp luẩn quẩn xoay quanh nó. Lên lớp, về phòng hoặc loanh quanh trong công viên rộng lớn. Thi thoảng sẽ lôi một quyển sách ra đọc, đôi khi là ngân nga một bài nhạc. Cũng có lần nó mang đàn ra công viên chơi để kiếm tiền, nhưng suýt nữa bị bảo vệ tịch thu. Phải van xin mãi thì hai người đàn ông đó mới nể tình mà tha cho.

Cuộc sống tiếp diễn như thế, nhưng chỉ có một người không chịu được. Đó là chị chủ nhà. Khi đã phát chán với việc chờ đợi tiền phòng của nó, chị liền dành thời gian quý giá của chị, đứng trước cửa vào sáng sớm mà chờ nó xuống đi học.

Cả hai vừa chạm mặt nhau là chị liền dơ tay vẫy nó. Trông chị nhìn nó bằng nửa con mắt thì đúng là chẳng dễ chịu gì.

“Tiền phòng đến bao giờ đây Phong?” Chị nói.

Nó đứng trước mặt chị, hơi cúi và hiện nụ cười trừ trên môi: “Chị cho em khất ít thời gian nữa.”

Chị khoanh tay, đứng dựa vào tường và tiếp tục nhìn nó bằng nửa con mắt. Trông cái điệu bộ thì có lẽ chị vẫn không tin thằng này: “Cho đúng thời gian xem nào?”

“Hai tuần.” Phong dám chắc.

“Mày đi làm hai tuần có hai phát lương cho mày không?”

“Nhưng em có thể thu xếp được.” Phong nói.

Chị cười khẩy: “Thôi đi ông cố nội. Nói dõng dạc như thật vậy… Thế có muốn tìm việc làm không? Chị đang có một công việc rất hợp với mấy đứa lầm lì như mày.”

“Việc gì vậy ạ?”

“Trông tiệm sách. Dễ thôi, làm cùng với một ông cụ.” Nói xong chị liền chạy vào phòng, lấy giấy bút và viết địa chỉ ra rồi đưa cho nó. “Hôm nay lúc nào rảnh thì đến chỗ này. Cứ báo chị Trang giới thiệu rồi ông cụ sẽ hướng dẫn công việc. Cứ đến làm thử một buổi đi rồi về đây báo lại cho chị. Tất nhiên buổi hôm nay vẫn có công. Yên tâm đi..”

“Dễ ấy ạ?” Phong nói.

Chị bật ra cái chép miệng, nói xong liền vào phòng và đóng cửa lại: “Cứ đến đấy rồi biết.”

Vậy là  một giấc ngủ trên lớp, thằng Phong lần theo địa chỉ trên tờ giấy. Đi mãi mới tới. Đúng là một tiệm sách thật. Một tiệm sách tồi tàn nằm lọt thỏm giữa hai cửa hàng đồ hiệu sang trọng. Căn nhà thuộc dạng ống đã xuống cấp trầm trọng. Tường ẩm mốc bám rêu, cánh cửa xếp cũ kĩ, rỉ sét và có thanh đã gãy đôi. Nền đá hoa thì vỡ nát, bám những vết bẩn lớn chẳng biết là gì. Những kệ sách thì chẳng khá khẩm gì hơn, chúng sập xệ như sắp đổ đến nơi rồi. Còn hàng nghìn cuốn sách cũng đang hư hỏng vì môi trường tệ hại này. Thật sự có khi đi khắp thành phố này cũng chẳng thể nào tìm được một nơi tệ hại hơn tiệm sách này.

Điều ấn tượng duy nhất ở đây là sách, quá nhiều sách. Sách chất đống, xếp dầy chi chít trên kệ, sách xếp lên đến chạm trần nhà, sách xếp cả dưới đất. Nhiều đến nỗi phải luồn lách qua những chồng sách mà đi. Nhìn từ ngoài vào đã đủ khiếp đảm.

Thằng Phong đứng đó nhìn ngắm cửa tiệm, thế rồi cái bóng dáng ấy làm một ông cụ chú ý. Ông ấy vốn đang chăm chú đọc sách mép tường, khuất sau cánh cửa xếp. Ông ngó đầu ra và hăng hái chào khách:

“Mua sách hả cháu? Vào đi.”

“Cháu đến xin việc ạ.” Phong nói, và cụ vểnh tai lên nghe. Nó hiểu ngay ông cụ này lãng tai, nên đành ghé sát vào nói to hơn: “Chị Trang giới thiệu cháu đến đây làm việc.”

Cụ há mồm à lên một tiếng, đẩy gọng kính lão lên rồi nhìn ngó thằng Phong một lượt từ đầu xuống chân. Cụ gật đầu xem ra ưng dạng tử tế: “Cháu Trang giới thiệu à? Vậy thì được. Vào đi, ông cũng cần người làm cùng.”

Những tưởng ông cụ sẽ kéo nó ngồi xuống ghế mà giới thiệu lẫn nhau. Nhưng ông liền kéo tót nó nhảy vào giữa những chồng sách. Đứng đó mà cứ sợ những kệ sách sẽ đổ vào người. Thế là cụ cứ hai câu giới thiệu lại có một câu nói về công việc trong tiệm.

Cụ năm nay đã ngoài tám mươi, già những vẫn còn khỏe. Cụ nói thế nhưng thằng Phong cũng không dám chắc bộ dạng của cụ có còn khỏe không. Tóc cụ đã hói gần hết, chỉ còn lưa thưa những ngọn bạc trắng. Răng cũng đã rụng phân nửa và chiếc lưng gù thì đã hơi quá để làm việc.

Còn công việc ở đây thì thực sự là nhàn hạ. Chỉ cần ghi nhớ gian hàng và giới thiệu cho khách là được. Còn giá cả thì… vô giá. Đúng như thế, tùy người mà bán, tùy sách mà định. Không cần ăn thua hay lời lãi gì cả. Nó chỉ cần biết đằng này là sách văn học Âu Mĩ, đằng kia Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc chung một bức tường. Còn sách Việt Nam ở chính giữa.

Cụ giới thiệu khá kĩ, kĩ đến độ khi đang nói phần sách Nhật Bản thì cụ luyên thuyên sang chuyện khác. Còn đang nói thì bỗng cụ rút ra một quyển sách bìa xanh dương, in hình một cô gái ngồi xe lăn lên và giới thiệu. Nói tất tần tật về cả cuốn sách ấy. Thật bất ngờ khi cụ chỉ cần rút sách ra và nhớ hết được những thứ bên trong… và cả bên ngoài như tác giả. Điều đó thật phi lý với một ông cụ ngoài tám mươi, mà lại còn thi thoảng lú lẫn thế này.

Thấy cụ sắp luyên thuyên sang quyển khác, Phong liền chặn lời:

“Cụ! Cháu đến đây để xin việc.”

Cụ nhìn mặt nó, vểnh mặt lên nhìn rồi hình như lúc ấy mới sực nhớ ra, cười xuề xòa và đáp lại: “À, quên mất. Thế cháu tên gì ấy nhỉ?”

“Phong. Cháu tên Phong, mười tám, đang là sinh viên năm nhất.”

“Phong… Phong…” Cụ lẩm bẩm như để cố khắc vào tâm. “Ờ, nhớ rồi. Phong.”

Vừa dứt lời thì có khách vào cửa hàng làm cụ phân tâm. Là một người đàn ông chừng năm mươi, béo mập, mặc bộ quần áo rộng rãi và chùm chìa khoá treo leng keng ở thắt lưng. Cái bộ mặt lườn nguýt của ông ta thì thật chẳng mấy thân thiện.

Cụ ông hình như đã quen với hắn, liền đưa thằng Phong quyển sách bìa xanh và nhăn nhó chạy ra phía cửa mà quát:

“Mày về đây làm gì?”

Người đàn ông treo mắt kính đen vào cổ áo, nói bằng giọng thân tình:

“Kìa bố. Con về để xem bố dạo này có khỏe không mà.”

Cụ liền gắt: “Mày thì hỏi thăm cái nỗi gì? Mày lại về lục nhà, lục tủ lấy tiền đi đánh bạc chứ gì? Tao đã cho mày hết rồi. Giờ không còn thứ gì để cho nữa đâu. Mày cút đi.”

Tên đàn ông mặt vẫn tươi cười, xem ra ăn chửi đã quen, liền chạy lại không ngần ngại dùng sức mà nắm lấy tay cụ:

“Kìa, bố. Con mấy năm nay có chơi bời gì đâu? Chỉ là mở cửa hàng làm ăn thua lỗ. Mà con về hôm nay đâu phải xin xỏ hay lục lọi gì? Không hề vòi vĩnh, không hề báo nợ.”

“Thế mày về đây làm gì?” Cụ nói.

“Vậy bố không cho con đẻ của mình đến hỏi thăm bố sao?” Hắn nói như thể ngạc nhiên. “Con đẻ mà không được thăm hỏi à? Vậy con còn thua cái con đĩ Trang ấy sao? Nó còn chẳng có máu mủ gì với bố, vậy mà nó thích thì đến, thích thì đi. Con lại thua nó?”

Vừa nghe thấy chữ ‘đĩ’ mà khiến cụ nổi cáu hết sức. Nói Trang là con đĩ, vậy chẳng khác nào cụ đi chơi với đĩ? Ở cái tuổi này còn chơi với đĩ? Thật láo hết nấc, thật khiến cụ giận đến tím mặt mũi. Vậy là cụ liền gồng lên mà chửi:

“Mày nói ai là đĩ đấy hả thằng kia? Mày xem lại mày xem, có bằng con đĩ không mà dám nói vậy? Mày cút đi! Cút đi cho khuất mắt tao!”

Hắn lại cười xuề xòa, mặc cho cụ xua đuổi vẫn cố tiến lại, vắt tay ra sau lưng cụ làm như thân tình lắm vậy:

“Kìa bố… Con đến đây đâu phải để bị ăn chửi thế này. Con nói vậy… cũng vì con ghen tị với con bé ấy. Ai đời con ruột lại không được thương bằng đứa cháu kết nghĩa. Có phải không? Bố cũng phải hiểu cho con chứ.”

Nói có vậy là cụ liền xìu mặt xuống, tính tình dễ thay đổi như trở bàn tay: “Mày thôi đi. Mày thì tình nghĩa cái gì? Giá mày thế thật thì giờ đã chẳng ra nông nỗi này.”

Thấy ông cụ mềm lòng, hắn bỗng mỉm cười, định nói gì đó nhưng liếc thấy thằng Phong. Cái thằng này từ đầu cứ cắm đầu vào quyển sách mà đọc ngấu nghiến. Nhưng chắc tiếng nào cũng lọt tai nó hết rồi. Khó chịu, nên hắn liền gắt:

“Cái thằng kia! Mua sách, mua sau. Về cho tao nói chuyện gia đình. Cút!”

Ông cụ nghe hắn nói cũng giật mình. Hình như cụ đã quên béng mất nó còn ở sau lưng. Liền chạy lại mà thủ thỉ vào tai nó:

“Ơ, mai cháu đến nhé. Giờ nào cũng được. Còn quyển đó cứ cầm về mà đọc.”

Thằng Phong dạ vâng mấy câu rồi nhanh chóng chạy biến khỏi tiệm sách. Kể ra nó cũng thích công việc đơn giản như vậy, nhưng nếu ngày nào cũng gặp thằng cha kia thì thật không ổn. May thay vừa mới về cầu thang thì bắt gặp chị chủ nhà cũng vừa đi làm về. Nó vẫy chào chị và chị thì liền nói đùa:

“Sao? Trả tiền phòng à?”

Phong gãi đầu như thấp hèn lắm mà nói: “Em đến hỏi chút về chỗ làm ở tiệm sách. Em vừa đến thì liền có gã đàn ông chừng năm mươi, to béo đến đôi co với ông cụ. Hình như họ là bố con…” Suýt nữa thì nó thốt ra câu: “Và gã gọi chị là đĩ.”

Chị Trang nhấn mày, đoán ra ngay lập tức: “Đúng rồi đấy. Họ là hai bố con. Cũng chẳng thân thiết lắm đâu.” Rồi chị hất mặt vào trong. “Vào đi, chị nói cho cách mà xử lý thằng cha ấy.”

Chị mở cánh cửa, chỉ nó ngồi xuống giữa phòng, nơi đặt một chiếc bàn tròn kiểu Nhật và vài tấm đệm màu xanh dương. Phòng chị quả rất đẹp. Có chậu cây Lan Ý cạnh cửa sổ, có chiếc rèm mỏng manh để lọt ánh nắng cuối ngày. Và những món đồ được đặt gọn gàng và sạch sẽ khắp phòng.

Chị rót ra hai cốc nước rồi đặt xuống trước mặt nó:

“Việc đầu tiên chị muốn nói là chị tìm mày không để làm nhân viên bán sách. Ở cái tiệm ấy thì thằng quái nào lại mò đến làm gì? Chị chỉ muốn mày làm cùng để trông nom ông cụ thôi. Cũng chẳng cần phải làm gì quá, ví như cụ lên cơn đột quỵ hay gì thì lập tức gọi cấp cứu rồi liên lạc với chị.”

“Vậy thôi ạ?”

“Vậy thôi, vả lại cụ cũng cần có người nói chuyện. Mày chỉ cần ngồi đó, để mặc cụ nói là được. Chị thấy mày lầm lì nên chắc ở chịu được cảnh ngồi nghe ấy.”

“Cũng không chắc đâu ạ.” Phong đáp.

“Rồi, rồi.” Chị nói như hiểu ý nó lắm. “Chị sẽ trả lương cho mày. Cao hơn hẳn làm thêm ngoài kia. Cỡ hai lăm nghìn một tiếng nhé.”

Phong liền gật đầu: “Thế còn chuyện gã đàn ông to béo kia?”

“Mày khỏe thì cứ táng vào mặt ông ta một cái.” Chị nói như không. “Chị không táng được. Gã khốn ấy có làm được cái gì ngoài nướng tiền vào các xới bạc và chơi gái?”

“Chị nói đùa ạ?”

Chị liền bật cười, rút điếu thuốc lá ra và hút đầy điệu đà: “Ừ, đùa đấy. Mày yên tâm đi, gã khốn ấy chừng hơn tháng mới ngó mặt về hỏi thăm xin xỏ ông cụ một lần. Mà kể ra mỗi lần xin mà cả tháng mới chơi hết cũng là tài đấy chứ nhỉ? Năm mươi tuổi mà mới xài hết có ba căn nhà cũng không phải dạng tệ.”

Phong không quan tâm lắm, nó liền hỏi: “Thế em phải đối đáp gã thế nào?”

“À…” Chị phà khói ra rồi đập tàn thuốc. “Mày cứ mặc gã, vờ như điếc hoặc gã đến thì lảng đi chỗ khác. Chị mày khuyên ông cụ bao năm rồi mà vẫn vậy. Kệ đi.” Chị nhìn lên trần nhà nói: “Đây là căn nhà cuối cùng của cụ rồi, mà chị cũng đã mua lại. Tiền thì thằng cha đó lần trước cũng đã xin xỏ gần hết. Còn mỗi cái tiệm sách của cụ thôi, nhưng có chết cụ cũng không cho ai động đến tiệm sách đâu. Hắn hết thứ để xin xỏ rồi.”

“Vậy là em có thể yên tâm làm việc à?”

“Ừ,” chị gật đầu, lại phà ra một hơi thẳng mặt nó. “Cứ vậy mà làm thôi.”

Hôm sau, đánh được một giấc ngon lành trên lớp hết cả buổi sáng, thằng Phong liền đi thẳng đến tiệm sách mà nhận việc. Ông cụ vẫn chiếc quần dài và áo sơ mi ngắn tay, đóng thùng chỉnh tề, vẫn cuốn sách bìa đỏ như ngày hôm qua. Ngay khi nó đứng trước mặt, cụ liền ngẩng cổ lên hoan nghênh:

“A! Cháu đến rồi.”

Nó chẳng kịp đáp lại thì cụ đã kéo tay nó ngồi xuống ghế bên cạnh. Rót ngay cốc trà đặc dù nó cũng không thích thú gì món này lắm.

“Cái vụ hôm qua cháu đừng sợ.” Cụ nói. “Bố con to tiếng với nhau vốn là chuyện thường. Chẳng đến tệ hại đến nỗi phang nhau như ngoài kia đâu.”

Thú thực, câu nói đó làm thằng Phong hơi nhột. Nó nở một nụ cười gượng lên cho xong chuyện. Nhưng cụ lại tiếp tục nói:

“Thế ta tiếp tục chuyện chiều qua nhỉ? Thế cháu ở đâu? Nhà có mấy người? Cha mẹ làm gì? Có quen ai trên thành phố này không? Năm nhất lên đây chắc cũng khó khăn nhỉ?”

Phong lại gượng cười: “Cụ hỏi lại từ đầu được không?”

Cụ cười xuề xòa, xoay chiếc ghế tre ra ngang mặt nó, khép chặt hai đùi và hí hửng như một đứa trẻ con: “Cháu kể gia cảnh nhà cháu xem.”

Là một mớ bòng bong, thằng Phong định nói thế. Nhưng với tính cách cụ thế này thì chẳng khác nào thêm củi vào lửa. Không thích nói nhiều, vậy nên nó nói dối một lèo để đỡ vẽ chuyện. Nó biến cuộc đời nó trở thành một cuộc đời bình thường. Có cha, có mẹ, đều làm nông và đủ sống. Có một anh trai đang đi làm công nhân. Tất cả mọi người trong nhà đều khỏe mạnh và không ai mắc bệnh tật. Mọi người đều vui vẻ và hòa thuận. Không nợ nần, không vướng mắc bất cứ rắc rối nào trên đời.

Và quả đúng là có hiệu quả. Cụ nghe một hồi mà chẳng vặn thêm được câu hỏi nào nữa. Nhưng chuyện đời đâu chỉ có mình nó? Tính cụ không thể im lặng, và thế là cụ chuyển chủ đề nói về tiệm sách này:

“Cháu biết tiệm sách này có từ năm bao nhiêu không? Quyển sách đầu tiên ở đây là từ năm tám mươi đấy. Và đến năm chín mươi thì cửa tiệm chính thức mở cửa.”

“Sao lại lệch quãng thời gian mười năm vậy cụ?” Phong hỏi.

“À, Thì thực ra ban đầu ông không có ý định mở tiệm sách đâu. Ngày ấy thích đọc sách nên hay mua về. Thời gian đầu thì mua về để đọc, thời gian sau thì mua về cho sướng tay. Đấy, trong khoảng mười năm ấy, từ sở thích đọc sách lại chuyển sang sở thích sưu tầm sách bao giờ không hay. Đến khi kệ sách chất đống rồi thì mới ngã ngửa, thôi thì quay ra bán sách xoay vòng. Mà bán chẳng được bao nhiêu mà mang về lại nhiều. Giờ chất thành núi thế này đây.”

“Vậy là cụ tự tay lựa mua từng quyển đấy à?”

Cụ cười đắc chí lắm: “Đúng đấy. Ngày nào chẳng ghé tiệm sách. Còn quen hết mấy đứa con gái nhân viên bán hàng nữa là.”

“Thế cụ là nhà văn ạ?”

Câu hỏi ấy của Phong làm mặt cụ hơi xìu xuống. Nhưng nụ cười trên môi cụ chỉ hụt đi mười phần trăm, rồi lại nhanh chóng căng tràn trở lại: “Nhà văn gì đâu. Hồi ấy đi buôn, gặp thời, tiền về nhiều mới dám phung phí đi mua chơi. Chứ hồi ấy sách cũng đắt.”

Phong gật đầu. Và chẳng để nó gật hết hai cái, cụ lại nói tiếp:

“Đấy, thời trẻ mua về không đọc, để đến lúc già dành mười mấy năm ra nghiền ngẫm. Mệt thế đấy. Mà không đọc hết thì chết không nổi.”

Phong liếc nhìn cụ một cái: “Cụ còn khỏe mạnh lắm. Trí nhớ cũng tốt, hôm qua thấy cụ rút ra một quyển sách mà đọc vanh vách nội dung.”

Cụ lại cười đắc chí: “Thú thực, tớ chẳng biết mình đang nói gì đâu.”

“Sao ạ?”

“À, đôi ông lúc lú lẫn thật, rồi bỗng xuất thần bật ra được đống ấy. Cháu có nghe chuyện nhập hồn không? Nó giống vậy đấy. Nhưng cái hồn nhập vào ông lại là chính ông, đó là hồn phách lúc ông đọc cuốn sách ấy, nó trôi tuột theo thời gian và nhập vào đúng lúc ông cần. Thú thực lúc nói xong, ông cũng chẳng nhớ gì đâu.”

“Còn có chuyện cao siêu vậy nữa ạ?”

“Đời còn nhiều lắm cháu ạ.” Cụ nhấp một ngụm nước chè cho bon miệng. “Hồi chiến tranh trên rừng núi, thật sự trên đấy mới có nhiều chuyện tâm linh…”

Và công việc cũng kết thúc vào tám giờ tối. Đến khi nằm trên giường mà đầu óc nó vẫn thấy nằng nặng. Suốt từ một giờ chiều đến tận tám giờ tối. Cụ đã rót vào tai nó hàng nhìn câu chuyện về rừng rú, về tâm linh, và về những ngày chiến đấu ác liệt. Thú thực, vào những lúc rảnh rỗi và tâm hồn bình thường, ai cũng thích nghe chuyện. Nhưng nghe đến mức độ thế này thì thường vượt quá sức chịu đựng của người thường.

Nhưng, đó chỉ là ngày đầu tiên. Thế là nó dần tin vào một sức lực tâm linh, một sức mạnh vô hình truyền thẳng vào ông cụ, để ông có thể nói liên tục trong suốt nhiều ngày liền đến thế. Ngay ngày thứ hai, cụ chẳng dấu diếm gì mà nói hết cho nó nghe về cuộc đời cụ, về thằng con trai bất hảo, về đứa cháu Trang kết nghĩa. Mọi thứ. Ngày thứ hai thì cụ lại luyên thuyên về lịch sử con phố này suốt bốn mươi năm qua. Những ngày sau là về Nam Cao về Huy Cận, về đủ các thể thức nhà văn cụ từng gặp mặt.

Ngồi với cụ nhiều, thằng Phong tự ngộ ra một chiêu trò. Đó là bỏ ngoài tai mọi câu từ xung quanh. Nó có thể vừa nghe cụ nói, vừa chú tâm vào một cuốn tiểu thuyết trên tay. Trước kia thì thật khó tập trung khi xung quanh ồn ào, còn bây giờ thì thật dễ dàng.

Mọi chuyện thì vẫn ổn, cho đến vào một ngày đầu tháng Mười hai. Khi những cơn gió mùa Đông bắt đầu hiện hữu, nó nhận được một cuộc điện thoại. Người bên kia nói gấp gấp, giọng ra vẻ hệ trọng. Thế rồi ngay khi dập máy, nó lập tức bắt xe ra cảng, lên thuyền mà trở về đảo Đất Trắng.

Cứ vậy mà đi thẳng vào nhà Bác. Ngay khi ở ngoài đường, nó đã thấy rất nhiều người đứng từ trong nhà ra đến sân, đứng tận ngoài ngõ. Mặt ai cũng rầu rĩ. Vậy là Bác đang hấp hối thật rồi.

Vừa nhìn thấy mặt nó, bác gái liền chạy ra, nước mắt ngắn dài mà kéo nó vào trong: “Cháu vào đi. Vào cho bác nhìn mặt lần cuối đi cháu.”

Nó lướt qua những khuôn mặt quen thuộc từ ngoài ngõ đến tận trong nhà, có cả Thầy. Thầy đừng ép sát mình vào góc hiên nhà tối tăm. Một phần muốn ở bên giây phút cuối cùng của kẻ bệnh, cũng một phần muốn tìm chính thằng Phong. Bởi Thầy biết nó sẽ về.

Thằng Phong đứng cạnh đầu giường. Bác bây giờ đã chết từ bàn chân chết lên rồi. Đôi chân giờ trắng toát, lạnh ngắt. Nhưng Bác vẫn còn nhận thức, có lẽ là vậy. Đôi mắt bác vẫn lờ mờ nhìn nó, nhìn mãi thôi. Trong đôi mắt đã chạm đến cái chết ấy, hình như nó đã nhìn thấy sự an lòng.

Phong ngồi xuống, nắm tay Bác một lúc rồi đứng dậy.

Nửa tiếng sau, Bác tắt thở.

Thằng Phong đã không khóc. Nó chỉ ngồi trên bộ bàn ghế ngoài sân, ngẫm nghĩ về quãng thời gian Bác đã giúp đỡ. Nó ngồi đó mãi, mặc cho những người xung quanh bắt đầu bận việc, dựng rạp bày bàn. Nó ngồi giữa những tiếng khóc lóc trong nhà. Thế rồi, nó quyết định đứng dậy dậy. Đi ra phía cổng, nơi Thầy đã đợi sẵn.

Khi đó trời đã tối muộn, màn đêm buông xuống ngôi làng nhỏ ven biển. Thầy đã đề nghị: “Đi dạo chút chứ?”

Thằng Phong gật đầu. Hai người cứ đi theo con đường dẫn ra biển, suốt chặng đường chẳng ai nói câu nào. Giờ thằng Phong cao hơn Thầy nửa cái đầu, không như ngày trước nữa. Thế nó mới thấy thời gian trôi qua thật nhanh. Nhanh đến nỗi đến nỗi nó đã thoáng quên mất tuổi Thầy.

Hai thầy trò ngồi xuống một nơi thoáng đãng ngoài bãi biển. Nơi tiếng sóng và gió hoà vào nhau thành một âm thanh nhẹ nhàng và xoa dịu. Dưới một nền trăng sáng, pha vào mặt biển những luống sáng nhấp nhô. Cả hai cùng ngửi chung bầu không khí mặn mòi của biển cả. Thật quen thuộc, thật thoải mái, thật chẳng muốn quay lại thành phố nữa.

Đến giờ thì Thầy mới hỏi nhẹ nhàng: “Thế là em đã nhất định học cái ngành đó à?”

“Vâng.”

Thầy thở dài: “Đúng là tuổi trẻ mà. Dù có nhận ra là sai lầm thì vẫn cố chấp lao đầu theo. Để thầy nói cho em biết, em sẽ chẳng là gì khi học cái ngành đó đâu. Em chỉ là một hạt cát như bãi biển này thôi. Đó là một sự phí phạm nhân tài.”

“Em không phí phạm đâu.” Phong nói. “Phải nói sao nhỉ? Thầy có thể hiểu là em không thể chơi đàn nổi nữa. Nó… rất nhạt nhẽo.”

“Nhạt nhẽo mới là cuộc sống. Đời có ai là thần tiên đâu mà sung sướng mãi.”

“Nhưng em mất cảm giác chơi đàn rồi.”

Thầy nhăn mặt, phẩy tay một cái: “’Mất cảm giác chơi đàn’ là cái quái gì chứ? Thầy cũng dạy âm nhạc đấy.”

“Là em cảm thấy nhạt nhẽo. Em chẳng có mục tiêu nào để chơi cả. Em không giỏi nhất, nhưng em chẳng chó chút cảm hứng nào để vươn lên cả… Tóm lại, đằng nào cũng là kiếm tiền nuôi bản thân, em sẽ tìm một việc ổn định để làm.”

“Tại sao lại thế?”

“Em không biết.” Giọng Phong hơi cục, nhưng nó cũng thở một hơi dài để bình tĩnh lại. “Có lẽ em cần thời gian để định hình bản thân lại. Đơn giản vậy thôi.”

“Có liên quan gì đến con bé Hà Anh đó không? Kể từ cuộc thi tháng Bốn vừa rồi, em chưa hề nhắc đến con bé ấy một lần nào nữa. Hai đứa có cãi nhau hay gặp vấn đề gì không?”

Phong lắc đầu: “Không hề, bọn em bình thường. Bọn em chỉ là bạn thôi. Sau cuộc thi lần đó bọn em cần thời gian để ôn thi tốt nghiệp, vậy nên không có thời gian liên lạc với nhau. Vậy thôi.”

“Nếu bọn em có yêu nhau…”

Phong liền chặn lời: “Bọn em không hề yêu nhau.”

Thầy gật đầu: “Thầy xin lỗi. Nhưng rõ ràng… thầy vẫn không hiểu. Hồi tháng Tư em vẫn còn rất tham vọng. Vậy mà sau cuộc thi ấy… em chẳng còn gì cả. Chơi đàn cũng được, không chơi cũng chẳng sao. Đó là lý do tại sao thầy mới nghi ngờ mối quan hệ của hai em.”

Phong nằm ngả người ra bờ cát, ánh trăng liền chiếu vào mặt qua những kẽ dừa: “Đừng biến em thành một đứa si tình đến vậy chứ.”

“Kể về con bé ấy cho thầy nghe xem?”

“Sao Thầy lại muốn nghe?”

Thầy nghiêng đầu ngẫm nghĩ, một hồi sau mới đáp: “Thú thực, thầy cũng từng tiếp xúc với con bé ấy đôi ba câu. Nhưng nó như một cô tiểu thư ở nông thôn vậy. Lễ phép và ngoan ngoãn quá độ. Đời chẳng ai như thế cả, vậy nên thầy nghĩ đó không phải con người thật của nó.”

“Con người thật ấy à…” Phong lẩm bẩm.

“Chắc chỉ có em mới nghe được suy nghĩ thật của nó. Và chỉ có con bé mới được nghe suy nghĩ thật của em.” Thầy thở dài. “Nói vậy mà tủi thân thật đấy. Giúp đỡ em bao năm cuối cùng vẫn xếp sau con bé.”

“Không có chuyện đấy đâu thưa Thầy…”

“Có đấy. Thầy nghe trộm bọn em nói chuyện đấy. Lúc nào gặp nhau ở mấy cuộc thi, bọn em chẳng rôm rả nói chuyện, mà thầy thì rỗi việc.”

Phong cười mỉm: “Tệ thật đấy. Mong là Thầy không nghe được những thứ riêng tư của bọn em.”

“Trừ nói xấu ban giám khảo thì thầy không còn nghe thấy gì hết. Ai mà nghĩ một đứa con gái luôn hiền lành, dịu dàng đến vậy mà dám nói xấu ban giám khảo mạnh đến vậy.”

“Là do em lây cái tính xấu đấy cho Hà Anh đấy.” Phong nói.

“Vậy hả?”

“Em nghĩ mình như cái van nước vậy. Có em, Hà Anh tự tin xả hết cả đống câu tục tĩu ra ngoài. Chứ thành thực thì Hà Anh không bao giờ dám nghĩ như vậy. Ngay cả những suy nghĩ của cô ấy cũng bị một lớp màng đen tối bịt lấy. Một lớp bầy nhầy ngăn Hà Anh nghĩ láo, và chính cái lớp biến Hà Anh thành một ‘cô tiểu thư nông thôn’. Với cái độ lễ phép ấy thì chẳng ai có thể phàn nàn cô ấy cả. Là vậy đấy.”

Mặt Thầy thì nhìn rõ chẳng hiểu gì: “Thế hai đứa sao rồi?”

Phong nhặt được miếng vỏ sò rồi liền ném đi: “Em đang biến Hà Anh trở thành một cô gái hiền lành và ngoan ngoãn mãi mãi.”

Thầy ngẫm nghĩ và hiểu ra: “Thế là cắt đứt liên hệ à?”

“Vâng, là vậy đấy. Trong thâm tâm cô ấy luôn đặt vào em một trong trách. Cô ấy luôn nghĩ chỉ có mình em mới hiểu được cô ấy. Em thấy hơi nặng nề.”

“Đàn ông lên chứ.”

Phong thở dài: “Em cũng chẳng biết nữa.”

Cuộc nói chuyện hôm ấy kết thúc, thằng Phong nói nó cần thời gian để chấn tĩnh. Và Thầy cũng đồng ý như vậy. Cuối cùng, trên chuyến tàu rời đảo sau ngày đưa tang Bác, Phong xóa số và chặn liên lạc với Thầy. Khi làm vậy, nó chỉ biết liên mồm xin lỗi khi làm một thằng vô ơn.

Kể từ ngày Bác mất, các đợt rét cứ lũ lượt mà tràn về từ miền Bắc. Chúng mang đến những cơn gió buốt, cứ lựa người dưới hè phố mà đổ thẳng vào. Những gánh hàng rong, những tay xe ôm, và cả những người ngồi ngoài trông cửa hàng. Họ cứ đứng nép vào những mép tường mà tránh những cơn run rẩy.

Người ta đã ước một ngày ấm áp để phơi phóng, để giặt giũ cho thoả thích. Nhưng bầu trời cứ âm u như thể bị thứ gì bịt kín lấy. Sự tối tăm kéo dài từ tận chân trời này đến chân trời kia. Người ta đã phải chỉnh đèn đường để nó chiếu sáng vào bốn giờ chiều. Và trong nhà thì đèn luôn được bật. Rét cho đến Tết, rét cho đến Giao thừa mà vẫn không ngớt. Kinh hãi hơn, ngay trong đêm ba mươi, mưa Xuân đã đổ xuống Hà Thành. Và những kẻ phơi mặt ngoài đường giờ này mới thấy hãi thiên nhiên. Hà Nội chưa bao giờ có tuyết, nhưng chẳng có khách Tây nào lại không than vào Đông năm nay.

Trên căn phòng tầng năm, cánh cửa sổ cứ rung lên bần bật. Thi thoảng gió xé nát tờ giấy được bịt vào khe hở. Chỉ một thoáng như vậy là căn phòng trở nên lạnh buốt. Những lúc như vậy, lại phải gấp đôi tờ giấy lại mà che chắn.

Nhưng ngồi đây, ngồi giữa phòng với đống đồ nhắm và bia trước mắt, nghe tiếng cửa sổ rung cũng là một thú vui. Có cảm giác như được che chở bởi thiên nhiên, được hiên ngang ngồi trước những cơn gió rét buốt.

Còn những hai tiếng nữa mới đến khoảnh khắc Giao thừa, kể ra nó đã ngồi đây chờ đợi bốn tiếng rồi. Đồ nhắm mua ngoài tạp hóa cũng đã bày biện hết ra dưới nền. Thiết nghĩ, thôi thì đằng nào cũng phải ăn mừng. Vậy nên thằng Phong liền bật một non bia ra rồi uống. Một ngụm rồi thêm ngụm nữa, vẫn thấy khát thế là một hơi nửa lon bia. Bia đắng mà ngon quá. Bảo sao mấy thằng cha chán đời hay bỏ bia rượu ra uống. Uống vào mà thấy thư thái, thấy thông minh hơn hẳn. Chẳng thấy cần đời làm gì nữa.

Càng uống càng thấy phấn khởi, càng thấy Tết vui. Nhưng cơn say thì đổ xuống đầu nhanh chóng. Mắt nó hoa dần đi và chân tay thì loạng choạng. Khi uống đến lon thứ tư thì không tài nào với nổi lon bia khác nữa. Vậy là đêm Giao thừa ấy, thằng Phong nằm ngủ li bì trên mặt sàn lạnh giá. May thay giữa đêm bừng tỉnh mà bò lên giường.

Những ngày Tết, chẳng có việc gì phải làm, vậy là nó quay cuồng với những men bia. Uống bia chán nó lại quay sang uống rượu. Nó tự tạo ra một vòng luẩn quẩn giữa các loại hãng bia rượu. Từ đầu đến cuối, tên hãng được xếp theo bảng chữ cái và lặp lại mỗi khi kết thúc. Vậy là suốt năm ngày đầu năm mới nó chỉ chìm trong bia rượu và say xỉn.

Tết cuối cùng cũng hết, nhưng sự rét mướt thì vẫn còn lì lợm ở đó mãi. Sáng sớm chỉ nghĩ đến việc rời khỏi giường cũng là một cực hình. Thế là nó quyết định bùng buổi học đầu năm, nằm ngủ cho đến giữa trưa thì bật dậy đến tiệm sách.

Cụ ông vẫn ngồi im vị trí đó, nép sau cánh cửa xếp và trên bộ bàn ghế tre. Vẫn ấm trà ngút khói và một quyển sách trước mặt. Vừa nhìn thấy bóng dáng thằng Phong là cụ liền vẫy lại, chào đón thân tình:

“A, năm mới vui vẻ. Vào đi cho ấm.”

Thằng Phong liền chúc tuổi cụ mấy câu như thông lệ người ta vẫn làm. Nhưng cụ thì không quan tâm lắm, chỉ cười xuề xòa rồi nắm tay nó ngồi xuống bên cạnh:

“Về quê có vui không cháu? Cha mẹ thế nào?”

“Cả nhà cháu đều khỏe cả. Họ cũng gửi lời hỏi thăm đến cụ.”

Cụ uống ngụm nước trà đắng ngắt rồi nói: “Chà… Tết chán lắm. Được thằng con về nhà ăn Tết thì lại mất đứa cháu Trang. Hai đứa nó không giáp mặt nhau nổi nên đành vậy. Tết này con Trang nó chỉ dám sang ngày mùng Một chúc tết đôi ba câu rồi cũng về. Không chúng nó cắn xe nhau ngay ngày Tết mất.”

“Khổ cho cụ quá.”

Cụ bỗng đặt tay ngang vai nó, vỗ vỗ vài cái rồi nói: “Này, sao cháu có chuyện mà dấu ông kĩ thế hả?”

“Cháu thì có chuyện gì để dấu?” Phong vẫn bình tĩnh đáp.

Thế là cụ nở nụ cười đắc chí như mọi khi, rồi bật điện thoại ra, kéo xa mắt và mở cho nó một chương trình truyền hình. Vừa liếc mắt là thằng Phong nhận ra ngay, là cuộc thi vĩ cầm tháng Tư năm ngoái. Cũng thật không ngờ cụ lại tìm được chương trình này trên mạng xã hội.

Cụ kéo đến đoạn Phong chơi đàn ở vòng chung kết rồi đưa trước mặt nó: “Đây, đây là đứa nào? Hôm qua đang nghe nhạc thì lướt thấy cái này. Phải yêu cầu thằng con dạy mãi mới thuộc mà mở lại được.”

“Lần đó cháu ăn may thôi, chứ thật ra cũng chẳng ra thể thống gì.”

“Kém mà tự ti thì người ta thương, nhưng giỏi mà tự ti thì người ta dễ ghét đấy.” Cụ nói. “Đúng là ông chẳng biết gì về dòng nhạc này, nhưng nghe qua thì cũng đủ so sánh cháu với những đứa thí sinh khác.”

“Thằng chột làm vua xứ mù. Cháu không giỏi đến mức như vậy đâu.”

“Nhưng giờ cháu còn chơi đàn không?”

Phong lắc đầu: “Cháu bỏ lâu rồi. Giờ cháu đang học một Đại học bình thường, sẽ sống như một công dân bình thường.”

“Vậy chí ít thì cháu vẫn còn nghĩ chơi đàn là một điều đặc biệt.”

Phong bật cười: “Cụ bắt bẻ khéo quá.”

“Thú thực, hồi còn trẻ tớ muốn làm nghề nhà văn đấy.” Cụ nói. “Muốn làm thì mới đọc nhiều đến thế này. Nhưng đời lại không cho phép.”

“Không cho phép?”

“Hồi ấy chuyển sang viết lách thì đồng nghĩa với chết đói. Không có điều kiện nên phải lao đầu vào làm việc. Làm chán rồi chuyển sang kinh doanh. Rồi cháu biết đấy, khi có điều kiện thì không tài nào dứt ra được. Cái gọi là đam mê hay sở thích thì nó biến thành một hình ảnh in trong đầu. Chỉ nhìn thôi và không thể sờ nắn được nữa. Đến cái độ già tay run, mắt cận, não còn lú lẫn thế này thì… thôi, mơ ước gì nữa?”

“Vậy ạ…”

“Vậy nên cháu phải cố mà thực hiện đam mê. Thật đấy. Rồi khi cháu sống đến tuổi ông thì mới biết. Càng gần xuỗng lỗ thì càng cảm nhận thấy sự hối tiếc trong cuộc đời. Nó lồ lộ trước mặt và nhai ngấu nghiến từng suy nghĩ của mình. Tiếc lắm chứ không đùa được… Thế, tại sao cháu bỏ chơi đàn?”

Phong ấm ớ: “Cháu… muốn tìm một việc ổn định.”

“Đó,” cụ gần như hét lên. “Không có điều kiện thì phải kẹp đôi lại mà tiếp tục. Dành ít thời gian cho sở thích, còn lại là kiếm tiền nuôi bản thân.”

“Cháu cũng từng nghĩ vậy…”

“Cháu phải nghĩ vậy,” cụ vỗ vào bắp đùi nó. “Sống thế mới không phải hối tiếc. Đó là kinh nghiệm của một lão già sống gần chín mươi tuổi đấy.”

“Hối tiếc gì chứ? Rồi cháu làm gì cũng sẽ hối tiếc cả. Cháu từng biết một người đã hối tiếc đến tận cùng vì đưa ra một quyết định sai lầm. Người ấy còn tiếc nuối và sụp đổ còn hơn cả ông nói… Nhưng cháu chắc nếu người ấy không làm vậy, ông ấy sẽ còn đau khổ, còn hối tiếc gấp cả vạn lần.” Phong lắc đầu. “Cháu có chọn cách nào rồi cũng sẽ hối tiếc cả. Mong cụ hiểu cho cháu.”

Cụ nhìn nó, rồi nhấp một hớp trà đặc: “Cháu nói y như một ông cụ non vậy. Nhưng nếu cháu làm theo ông, thì sẽ thấy yêu đời hơn đấy.”

Phong cười trừ: “Cháu thì cần gì đời. Cháu còn từng tẩn cho ‘cả nhà đời’ một vố đau điếng.”

Cụ thở dài: “Đúng là thời nay thanh niên gặp nhiều vấn đề thật.”

“Dạ… Thực ra cháu chẳng có vấn đề gì cả. Mà, chắc thời cụ ai cũng mạnh mẽ nhỉ?”

“Không có đâu.” Cụ nói. “Chỉ là chúng tớ phải nén cái cay đắng vào trong mà kiếm cái ăn. Chân tay hoạt động nhiều thì não ít nghĩ đi. Ít nghĩ thì ít sinh vấn đề. Vả lại, ngày trước cái chết thì lúc nào cũng lầm lũi sau lưng, chẳng ai đi tìm kiếm khổ sở để lao vào cái chết cả. Còn giờ thì khó chết, và nhiều người thì cứ cố lục tìm nó. Giống như lòng tham vậy.”

Quãng thời gian Phong cuối mười tám, đầu mười chín tuổi ấy, chẳng biết có gì tươi đẹp mà xảy ra lắm chuyện đến vậy. Việc tiếp theo diễn ra vào giữa tháng Ba. Những đợt rét cuối cùng cũng rút lui, nhường lại không gian ấm áp của mùa Xuân. Bầu trời xám xịt nay đã toả nắng rực rỡ. Đường phố bỗng nhiên đông đúc và tươi vui hơn hẳn những ngày trước. Khuôn mặt ai cũng tỏ đầy năng lượng. Và những đứa trẻ thì nô nhảy dưới những bóng cây mà lâu đã không nhìn thấy.

Đó cũng là ngày Cụ chết.

Trong căn nhà nhỏ bé nằm sâu trong hẻm tối, phía trên tầng hai phòng bên trái cầu thang. Cụ đã mãi mãi nằm im trên chiếc giường cổ cùng chiếc chăn màu nâu xám. Không một ai biết, chẳng một ai hay rằng Cụ đã đi đâu trong ba ngày liền. Việc Cụ không mở cửa tiệm nhiều ngày không phải là một chuyện lạ lẫm. Và việc chị Trang cả tuần mới liên lạc với Cụ một lần cũng là chuyện bình thường.

Thế rồi, Cụ chết mãi, rồi mùi xú uế mới đánh động đến đám hàng xóm. Chúng rối rít tìm mùi, rồi phát hiện ra từ căn nhà nhỏ của Cụ. Vậy là công an ập đến, phá khóa, khám nghiệm kiểm tra chán chê rồi mới đưa Cụ đi. Cuối cùng, tất cả những gì còn lại của Cụ chỉ còn lại một hũ tro tàn. Nhanh đến đáng sợ.

Đám tang cũng được tổ chức nhanh chóng trong một nhà tang lễ. Chẳng có mấy khách khứa, mà nực cười hơn khi đám khóc thuê còn nhiều hơn cả người thân thích.

Tro cốt Cụ nằm trong chiếc tiểu nhỏ, và phía trước là di ảnh Cụ. Xung quanh phủ đầy hoa, nến và hương thơm ngào ngạt. Và quan trọng nhất, đến năm tên khóc thuê đang gào thảm thiết bên Cụ. , nam nữ, già trẻ đủ cả. Chúng khóc thảm thiết, ai oán, rền rĩ… trông u sầu đến thế là cùng.

Vậy là xong đám tang đấy, con trai cụ sẽ thừa hưởng lại toàn bộ gia sản của Cụ, kể cả tiệm sách. Cũng có nghĩa Phong đã mất việc.

Hà Nội đầu mùa nắng Hạ. Cái oi nóng tỏa ra từ mọi thứ. Từ mặt đường, từ ống bô xe, từ lớp không khí hừng hực khó thở… Đi bộ dưới nền trời nắng quả khiến mọi người trở nên phát điên. Thằng Phong không ngoại lệ, bằng cái đầu nóng bừng bừng, nó đi bộ hết con phố này đến con phố nọ.

Hai tháng kể từ ngày mất việc ở tiệm sách, ví tiền nó cứ dần hao hụt. Đến giờ thì đến mức báo động rồi. Đáng ra nó cần phải tìm việc ngay khi mất việc, nhưng nó đã không làm vậy, nó lười và chỉ nằm trong phòng.

Vậy nên hôm nay nó mới phải đi bộ lâu đến thế này, từ hẳn sáng sớm đến tận trưa chiều. Cũng ngã một cú xưng vầng trán suýt khiến người ta phải gọi cứu thương. Thế mà thu lưới cũng chẳng được kết quả gì.

Chán mớ đời, đành phải ghé vào một tiệm tạp hóa và kiếm gì đó bỏ bụng. Đứng xếp hàng ở quầy thu ngân, bỗng nhiên nó thấy một tờ tạp chí quen mắt. Cầm lên và đọc, một dòng tin lồ lộ trước mặt, và cái tên Hà Anh thì in ở góc cuốn tạp chí.

Không chần chừ, Phong đi thẳng đến một hội trường lớn, nơi đang tổ chức cuộc thi vĩ cầm cuối mùa Xuân. Cuộc thi vĩ cầm năm nay tổ chức rầm rộ hơn hẳn năm ngoái. Các băng-rôn treo ngập từ cổng vào đến tận sân.

Mua nhanh một vé ở ngay cửa vào, chọn hàng ghế cuối mà ngồi. Cuộc thi đã trôi qua một nửa. Phía trên kia, một thằng nhóc chừng mười lăm đang biểu diễn bản Caprice 24 của Paganini. Trông nó tự tin biết bao nhiêu trước cả trăm con người ngồi dưới.

Ngồi đó chừng một tiếng, nó mới nhận ra cuộc thi này toàn những thí sinh chất lượng. Những bản nhạc được đánh lên hoàn hảo và đầy cảm xúc. Thậm chí có một cô gái còn khiến những người khác phải gật đầu, phải xuôi theo những nốt nhạc của cô ta. Ấy thế mà cuộc thi này mới đang ở vòng một, và còn những hai vòng nữa. Nghĩ thôi cũng thật muốn đi xem phần còn lại.

Thí sinh cuối cùng được lên sân khấu. Cô gái với bộ đầm màu đen và mái tóc dày được tết là cuốn gọn trên đỉnh đầu. Thân hình nhỏ nhắn ấy cúi chào, vài tiếng vỗ tay vang lên như một lẽ thường tình. Từ xa, thằng Phong cũng có thể nhận rõ khuôn mặt ấy, với đôi mắt sâu và bờ môi nhỏ nhắn. Và dương như nó có thể mường tượng ra từng đường nét trên đôi tay cô ấy. Một đôi tay mà cô vẫn luôn tự ti. Nhanh thật, vậy là cũng đã một năm cả hai đứa chưa gặp nhau.

Trong hội trường, tiếng đàn của Hà Anh bắt đầu được ngân vang.

-OoO-

Tham gia Hako Discord tại https://hako.vn/discord

Bình luận (0)
Báo cáo bình luận không phù hợp ở đây

0 Bình luận