Long Tộc Tiền Truyện: Đôi Cánh Ai Điếu
Chương 2: Giao Dịch
0 Bình luận - Độ dài: 2,857 từ - Cập nhật:
Một đêm khuya mưa lất phất vào mùa thu năm 1900, tại cảng Hamburg, Đức
Ngọn đèn khí trên ngọn hải đăng như một thanh kiếm sắc bén chém ngang màn đêm, ánh sáng xoay tròn, cắt qua bóng tối, rọi xuống bến tàu, cắt ra một cái bóng gầy gò nhưng thẳng tắp.
Bá tước trẻ tuổi Manecke Cassell đứng một mình trên bến cảng, không che ô, hai tay nhét trong túi áo, cổ áo khoác phong phanh dựng lên để chống lại cơn gió lạnh.
Bàn tay giấu trong túi áo của anh khẽ vuốt ve chiếc nhẫn bạc cổ trên ngón trỏ trái.
Đôi mắt vàng hẹp lại thành một đường chỉ, xuyên qua tròng kính màu trà, nhìn chằm chằm về phía biển.
Mặt biển vốn tĩnh lặng giờ đây gợn lên những con sóng bất an như một nồi nước sắp sôi, dấu hiệu báo trước cơn bão sắp đến.
Hầu hết các con tàu đều đã vào cảng, chỉ còn lại một vùng biển trống trải xa xa, với quầng sáng tròn tái nhợt in trên mặt nước dưới ánh đèn le lói.
"Tới rồi!"
Khóe mắt anh hơi giật giật.
Khi ánh sáng từ ngọn hải đăng một lần nữa quét qua vùng biển hoang vắng, một cái bóng đen của con tàu chở hàng đột ngột hiện ra, lặng lẽ không một tiếng động, tựa như một con tàu ma vừa xé toạc đại dương mà trồi lên từ cõi chết.
Dòng chữ "Hoàng hậu Mary" được sơn trắng nổi bật trên thân tàu đen nhánh.
Đó là một con tàu Anh khét tiếng với danh tiếng không mấy tốt đẹp, thường qua lại giữa Viễn Đông và cảng Hamburg, dùng buôn bán thuốc phiện và gốm sứ làm bình phong để bí mật giao dịch các cổ vật từ Đôn Hoàng và miền Nam Trung Quốc.
Manecke giơ tay ra hiệu, người của anh trên bến cảng dùng đèn tín hiệu đánh ra ba dài hai ngắn.
Con tàu "Hoàng hậu Mary" trả lời bằng hai ngắn hai dài.
Chúng rất cẩn trọng, thả neo bên ngoài cảng và vẫn lặng lẽ trôi nổi trên những con sóng, không di chuyển.
Thủy thủ trên tàu mặc áo mưa, hạ xuồng cứu sinh, gắng sức chèo về phía bến tàu.
Lộ Sơn Ngạn lặng lẽ tiến đến sau lưng Manecke.
Anh là một người Trung Quốc chính gốc, 25 tuổi, đôi mắt đen láy, những đường nét trên khuôn mặt vừa ôn hòa vừa sắc sảo.
Thân hình anh ngang ngửa với Manecke.
Lộ Sơn Ngạn khoác một chiếc áo mưa đen phủ kín, che đi bộ lễ phục Đại Thanh bên trong.
Bím tóc dày của anh được quấn lại và giấu trong chiếc mũ lễ, khiến anh đứng sau lưng Manecke trông như một người phương Tây bình thường, không dễ để nhận ra là người Đông phương.
Lộ Sơn Ngạn có thể được xem là một nhân vật quan trọng trong phong trào Dương Vụ.
Năm Quang Tự thứ mười sáu, anh được chọn vào học tại Kinh Sư Đồng Văn Quán, thông thạo ngôn ngữ và kỹ thuật châu Âu.
Bốn năm sau, anh trở thành trợ lý của sứ thần Đức, và chính tại đó, anh gặp vị bá tước trẻ tuổi này.
Họ trở thành những người bạn thân nhất của nhau.
Lộ Sơn Ngạn lấy ra chiếc đồng hồ bỏ túi bằng vàng nạm ngà voi, liếc nhìn.
"Thời gian vừa chuẩn, bọn chúng rất đúng giờ."
Manecke nghiêng đầu nhìn người bạn của mình, ánh mắt cuối cùng dừng lại trên hai vệt sáng kim loại lóe lên dưới lớp áo khoác của Lộ Sơn Ngạn.
Trong màn đêm đen kịt, hai tia sáng ấy sắc bén như hai lưỡi dao.
Đó là hai khẩu súng lục cỡ nòng lớn màu bạc.
Lộ Sơn Ngạn không phải là một người Trung Quốc tay trói gà không chặt.
Manecke biết rõ, khi Lộ Sơn Ngạn khai hỏa cả hai khẩu súng cùng lúc, anh có thể bắn rơi hai con chim đang bay trên trời.
Và tất cả viên đạn đều xuyên thẳng vào mắt chúng.
"Sơn Ngạn, cậu không thấy chúng ta là một bộ đôi kỳ lạ sao?"
Manecke siết chặt thanh trường đao giấu trong áo khoác, cán đao khảm bạc thò ra ngoài, tì nhẹ lên cằm anh.
“Có gì lạ đâu?”
Lộ Sơn Ngạn thản nhiên hỏi lại.
“Dùng sai vũ khí rồi.”
Manecke từ từ rút lưỡi đao ra một tấc, rồi lại thu về.
Trong khoảnh khắc đó, ánh sáng lạnh lẽo của lưỡi đao sắc bén đến thấu xương, như ánh trăng rực rỡ trên bầu trời mùa đông.
Những hoa văn tự nhiên trên lưỡi dao hiện lên rõ ràng.
Đây là một thanh trường đao mang phong cách Đế quốc Ottoman, được rèn từ thép hoa văn lạnh hiếm có.
Sau thế kỷ XVIII, kỹ thuật luyện chế thép thần thoại này gần như đã thất truyền, và những thanh đao như vậy chủ yếu chỉ còn là món đồ trưng bày trong giới quý tộc châu Âu.
Nhưng Manecke không mang theo thanh đao này để phô trương hay phòng thân – anh sẵn sàng sử dụng nó bất cứ lúc nào.
“Rồi sẽ có một ngày nào đó, toàn bộ binh lính Đại Thanh của tôi sẽ đều được trang bị súng ống và đao kiếm do các cậu sản xuất. Khi đó, đất nước tôi sẽ trở nên hùng mạnh, và không còn ai phải mua thuốc phiện của các cậu nữa.”
Lộ Sơn Ngạn nói.
“Này, cậu nói vậy cứ như tôi cũng là một tên buôn thuốc phiện không bằng.”
Manecke phản bác.
Lộ Sơn Ngạn mỉm cười, anh biết Manecke tuyệt đối không dính dáng đến thuốc phiện, chỉ là anh muốn trêu chọc một chút mà thôi.
Nếu cả hai bọn họ đều im lặng vào lúc này, bầu không khí sẽ trở nên quá mức lạnh lẽo.
Biển cả, mưa phùn, ngọn đèn cô độc, lại thêm một chiếc thuyền cứu sinh đen ngòm đang tròng trành trên sóng dữ.
Mà chưa kể đến những đồng đội đứng phía sau, ẩn mình dưới lớp áo choàng mưa, tay siết chặt khẩu súng máy Maxim nặng trịch.
Nhưng có lẽ, sự lạnh lẽo đó là điều tất yếu.
Dù không ai nhắc đến, nhưng mỗi người trong họ đều ngầm hiểu rằng lần này họ đang giao dịch thứ gì.
Một món hàng khiến người ta phải rùng mình kinh hãi đến tận tủy xương.
Mã giao dịch số 19010666, đây là món hàng thứ 666 mà bọn họ mua từ Viễn Đông trong năm nay.
Con số chết tiệt ấy khiến Lộ Sơn Ngạn, một kẻ vốn không tin vào thần thánh, cũng cảm thấy bất an.
666—đó là con số thuộc về ma quỷ Satan.
Hẳn phải là thứ gì đó đáng sợ đến mức làm người ta rùng mình từ tận sâu trong tủy sống.
Cuối cùng, chiếc thuyền cứu sinh cũng cập bến.
Tên thủy thủ cầm đầu cao to vạm vỡ, nhảy lên cầu cảng, thậm chí không buồn dùng dây thừng cố định thuyền, chỉ lấy tay siết chặt vòng sắt trên mũi thuyền, đề phòng con thuyền bị thủy triều đẩy đi.
Điều này chứng tỏ bọn chúng không muốn nấn ná lại dù chỉ một giây.
Giao dịch xong, họ sẽ lập tức rời đi.
Mặc dù đã lênh đênh trên biển suốt nửa năm trời, nhưng dường như họ không hề mong mỏi được đặt chân lên đất liền, cũng chẳng có chút hứng thú với những quán rượu ấm áp và những cô gái tiếp rượu nơi phố cảng.
“Toàn người quen cả, kiểm hàng đi. Nếu không có vấn đề gì, chúng tôi sẽ trả tiền theo đúng giá thỏa thuận.”
Lộ Sơn Ngạn nói bằng tiếng Trung.
Anh từng nghe nói rằng chủ thực sự của chiếc Hoàng hậu Mary là một người Trung Quốc, nhưng không ai biết danh tính của người đó.
Các thủy thủ châu Âu chỉ phụ trách điều khiển con tàu, còn những kẻ thực hiện giao dịch đều là tay chân của ông chủ người Hoa, toàn bộ đều là những người đàn ông rắn rỏi đến từ vùng Tây Bắc.
Tên thủy thủ cầm đầu ngẩng đầu lên, lắc lắc đầu.
Lộ Sơn Ngạn giật mình.
Không giống như những kẻ từng giao dịch trước đây, người này có gương mặt vuông vức, hốc mắt trũng sâu, đôi đồng tử ánh lên tia sáng yếu ớt như ngọn đèn tàn.
Hoàn toàn là một kẻ xa lạ.
Nhưng điều kỳ lạ nhất là đôi môi hắn ta đã bị khâu chặt lại bằng những sợi chỉ đen, lạnh lẽo.
Với cách thức tàn nhẫn này, hắn ta không thể nói chuyện được nữa.
Bốn gã thủy thủ người Hoa khiêng một chiếc rương sơn đen từ trên thuyền lên bờ.
Trên nắp rương phủ đầy những dấu niêm phong cũ kỹ, bên trên in rõ mã giao dịch 19010666 cùng huy hiệu gia tộc Cassell.
Đây là dấu niêm phong được đại diện của nhà Cassell đóng lại sau khi kiểm hàng tại Trung Quốc và chuyển lên tàu.
Với những món hàng quý giá như thế này, tất nhiên không thể không kiểm tra lại lần nữa.
Manecke phất tay, một thanh niên tóc vàng đeo kính kẹp mũi lặng lẽ bước đến bên chiếc thùng.
Trông anh ta chỉ mới hai mươi tuổi, khuôn mặt khôi ngô vẫn còn phảng phất nét trẻ con.
Nhưng Lộ Sơn Ngạn biết rõ.
Người thanh niên có tên Anjou này sở hữu học vị tiến sĩ từ Đại học Cambridge, đồng thời là một chuyên gia trong lĩnh vực thần học và cổ văn.
Anjou rút từ trong túi ra một con dao gấp, đẩy lưỡi dao ra, rồi chậm rãi rạch dọc theo khe nắp rương, động tác đơn giản mà dứt khoát.
Anh hít một hơi thật sâu, giơ cao chiếc đèn dầu trong tay, hé mở một khe nhỏ trên nắp thùng.
Ai cũng có thể thấy sự thay đổi trên gương mặt Anjou.
Không rõ là cuồng hỉ, sợ hãi hay kinh hoàng.
Anh cố gắng kiềm chế, nhưng chiếc kính kẹp mũi vẫn trượt khỏi sống mũi.
Nếu không nhờ có sợi dây xích giữ lại, nó đã rơi xuống đất vỡ tan rồi.
Anjou chậm rãi đóng nắp rương lại, rồi khẽ gật đầu với Manecke.
“Như đã thỏa thuận trước, năm vạn Mark, toàn bộ thanh toán bằng bạc.”
Manecke vỗ tay, mấy người đồng đội lực lưỡng lập tức bước lên, khiêng theo một chiếc hòm đầy tiền.
Thế nhưng, gã thủy thủ cầm đầu chỉ xua tay, không hề tỏ ra hứng thú với khoản tiền khổng lồ này.
Hắn rút từ trong túi ra một phong thư đã được viết từ trước, đưa cho Lộ Sơn Ngạn, sau đó cung kính cúi chào thật sâu, rồi dẫn theo nhóm thủy thủ lên thuyền cứu sinh, cấp tốc quay trở lại Hoàng hậu Mary.
Mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía Lộ Sơn Ngạn.
Trong số những người ở đây, chỉ có anh là hiểu tiếng Trung (không rõ có đúng vậy không, vì sau này học viện Cassell mới phổ cập tiếng Trung).
Lộ Sơn Ngạn đọc lướt phong thư với tốc độ cực nhanh, rồi im lặng hồi lâu.
“Bức thư nói rằng món hàng này không cần trả tiền. Đây là vật bị nguyền rủa, ai dính vào đều sẽ chết.”
Lộ Sơn Ngạn nói với vẻ mặt không cảm xúc.
“Cuối thư viết: ‘Tạm biệt, từ nay về sau chúng tôi sẽ không bao giờ giao dịch với các ngươi nữa."
“Nghe cứ như chúng ta lời to vậy.”
Manecke cười khẩy.
“Nhưng sao tôi lại thấy lạnh sống lưng thế nhỉ?”
“Nhìn kìa.”
Lộ Sơn Ngạn hướng mắt về phía xa, nơi con tàu Hoàng hậu Mary đang neo đậu.
Chiếc thuyền cứu sinh đã cập bến, còi tàu cất lên một hồi dài.
Trong đêm giông bão sắp kéo đến này, con tàu ấy lại từ bỏ cơ hội cập cảng, thu lại mỏ neo, lập tức khởi hành với tốc độ tối đa, lao thẳng vào màn đêm u tối.
Manecke ngẩng đầu lên, đúng lúc ánh đèn pha của ngọn hải đăng rọi thẳng lên bầu trời.
Trên đó, những đám mây đen cuồn cuộn tựa như mặt biển gầm gào phía dưới.
“Muốn vứt thứ xui xẻo này đi nhanh đến vậy sao?”
Anjou nhún vai.
“Nếu nó thực sự là thứ không may mắn, ai chạm vào cũng chết, thì vận rủi sẽ lan đi còn nhanh hơn cả gió, chẳng ai trốn thoát được đâu.”
"Anh vui mừng cái gì chứ? Vận rủi có nhanh đến đâu thì cũng sẽ bắt đầu từ những kẻ ở gần nó nhất. Anh xem, chúng ta đứng gần nó thế này, ta thậm chí còn có thể chạm tay vào nó nữa kìa.”
Manecke vỗ vỗ vào chiếc rương lớn làm bằng gỗ mun đen của Ấn Độ.
“Mà sao đám người Trung Quốc kia lại đóng cái rương này trông giống hệt quan tài vậy?”
Anjou thoáng có biểu cảm kỳ lạ.
“Manecke, anh chưa từng nghe ai miêu tả thứ bên trong sao?”
Anh nhìn quanh bốn phía.
Mọi ánh mắt đều tập trung vào chiếc rương.
Anjou chậm rãi đẩy nắp rương ra.
Tất cả đều hít vào một hơi lạnh buốt chạy dọc sống lưng.
Chiếc rương lớn làm từ gỗ mun đen Ấn Độ, được đóng vội vã, thực chất là một cỗ quan tài kiểu Trung Quốc sơn đen, viền bạc, khắc hoa sen.
Dù đã trải qua bao năm tháng, lớp sơn đã tróc lở, một số phần gỗ đã bị mối mọt ăn mòn, nhưng vẫn có thể hình dung được độ tinh xảo của nó thuở ban đầu.
Manecke khạc xuống đất, rồi buột miệng nói bằng thứ tiếng Trung méo mó:
“Quan tài quan tài, thăng quan phát tài!”
---
“Nghe giống mấy tay buôn đồ cổ quá nhỉ.”
Lộ Minh Phi nhân lúc hiệu trưởng rót nước vào ấm trà liền lên tiếng.
“Hiệu trưởng, hồi trẻ thầy không đi đường chính đạo ạ…”
“Đây là truyền thống của Bí đảng đồ long. Đến tận ngày nay, học viện Cassell vẫn là một trong những khách hàng lớn nhất trong thị trường buôn bán cổ vật.”
Hiệu trưởng bình thản đáp.
“Chẳng lẽ em nghĩ học bổng cao ngất ngưởng của các em từ đâu mà có? Những nghiên cứu của trường đều không thể công khai, đương nhiên chẳng ai tài trợ cả. Ngoài những khoản quyên góp hào phóng từ hội đồng nhà trường, thì nguồn thu chủ yếu chính là buôn bán cổ vật.”
“Vi phạm pháp luật ư?”
“Có chút ít, nhưng rất hiếm.”
Hiệu trưởng rót thêm trà cho Lộ Minh Phi.
“Bởi vì liên quan đến ngôn linh và thuật luyện kim, rất nhiều tri thức đã thất truyền. Trường chỉ có thể nghiên cứu và phân tích một số cổ vật để thu thập từng chút một về kiến thức của Long tộc. Còn những tạo vật không thể tái tạo, giờ đây chỉ có thể tìm thấy trong các lăng mộ cổ. Một món dùng là mất đi một món. Nếu trường không thể đạt được bước tiến trong việc phục dựng thuật luyện kim, thì thế kỷ tới, có lẽ nhân loại sẽ không còn tìm thấy bất kỳ chế phẩm luyện kim nào đủ sức chống lại Long tộc thuần huyết nữa.”
“Tại sao trong các lăng mộ cổ lại có chế phẩm luyện kim ạ?”
"Hầu như tất cả các pháp thuật và sức mạnh thần bí đều liên quan đến công nghệ của Long tộc, mà hai nền tảng cốt lõi trong công nghệ của chúng chính là ngôn linh và thuật luyện kim. Con người đã đánh cắp công nghệ của Long tộc, nhưng không thể đi sâu vào lõi kỹ thuật. Phần lớn nhân loại không mang huyết thống Long tộc, nên không thể hiểu hết những nội dung phức tạp đó. Do đó, những tín ngưỡng cổ đại thực chất chỉ kế thừa được một phần rất nhỏ kỹ thuật của Long tộc. Thế nhưng, dù chỉ là một phần nhỏ, theo thời gian, nó cũng dần dần bị lãng quên. Ngày nay, những gì còn sót lại chỉ là các tùy táng phẩm trong những ngôi mộ cổ mà thôi.”
Hiệu trưởng dừng lại một chút rồi nói tiếp:
“Nhưng những tùy táng phẩm đó thường tiềm ẩn rủi ro rất lớn. Chúng nên được giao cho những người chuyên nghiệp nhất để xử lý... Manecke Cassell – sai lầm lớn nhất trong cuộc đời ông ấy, chính là đã không tìm được người có chuyên môn để xử lý chúng.”


0 Bình luận